Ziendan TiengViet
TRANGNHÀ VNY2K
TRANGCHỦ   Ghidanh   Ðăngnhập   Danhsách thànhviên
Xem thưriêng   Banquảntrị   Tìmkiếm   Thắcmắc chung

Diễnđàn tiếngViệt
VNY2K - Vietnamese2020
Sửađổi cáchviết chữViệt
Tánthành cảicách
Phảnđối cảicách

Từnguyên tiếngViệt
Nguồngốc Hán
Nguồngốc NamÁ -- Mon-Khmer
Từ ngoạinhập Pháp-Anh
Tínhđaâmtiết của tiếngViệt

Thưgiãn - giảitrí - tánngẫu
Chuyệncấm đànbà
Nghềchơi cũng lắm côngphu

Sángtác - dịchthuật
Vănhọc nghệthuật
Dịchthuật - songngữ
Tạpký thuyềnnhân
Nhậtký đểđời
Lưubút chuyện ngàyxưa

Dulịch Việtnam và thếgiới
Quêhương yêudấu
Thếgiới muônmàu

Thếgiới siêuhình
Tửvi - Tướngsố
Phongthủy - kinhdịch
Mêtín dịđoan

Tảnmạn
Anything goes...
Vấnnạn của chúngta....
Gópý cảitiến diễnđàn
Kếtnối liênmạng
Thắcmắc chung về diễnđàn
Email đángnhớ...
Thư gởi bạn phươngxa

Tìnhyêu và cuộcsống
Tìnhyêu
Cuộcsống

Raovặt
Muabán - traođổi - nhắntin
Tìmviệc - Cầnngười

Tintức
Tin... đángkể
Thôngtư liênmạng

Nguồngốc dânViệt
NgườiViệt từđâu tới?
Giaphả họ Việt

Phêbình vny2k.com
Ýkiến bạnđọc

Sáchbáo - phimnhạc
Phimảnh về Việtnam
Sáchbáo mới
Phimbộ Trungquốc
Nhạc từ... chânkhông

Làmgiàu tiếngViệt
Sángtạo từ mới
Phiêndịch
Cảithiện từvựng

Họcthuật - nghiêncứu
Họcthuật vănhoá
Nghiêncứu khảoluận

Tuổitrẻ Việtnam
Tuổitrẻ lênđàng
Họcđường và sáchvở
Giờrachơi hay giờ khổhạnh?
Hìnhnhư là tìnhyêu...



Thốngkê
· 48 đềtài trong 16 đềmục của diễnđàn
· 1260 thànhviên đăngký. Xin chàomừng thànhviên mới cuahangdongho.
Số khách đang viếngthăm: 5
Thốngkê nầy dựatrên dữkiện ghinhận 15 phút trướcđây.

Họ đang làmgì??

Thànhviên mới
· cuahangdongho
  Jan.21.2025, 00:59 am
· thepankhanh
  Jun.28.2024, 02:18 am
· dangtinchuyennghiepht
  Jun.18.2024, 18:49 pm
· hanlaserinox
  Apr.15.2024, 18:58 pm
· thucphamkho
  Feb.19.2024, 17:08 pm
Danhsách thànhviên

Banquảntrị diễnđàn
Quảntrịviên
admin

Ðiềuhợpviên
admin
abcd
dchph


Đánh cho Poo bại Xí nhào, đánh cho Ủn đổ Trôn vào nhàgiam!
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jul.12.2026

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO TÂNTHỜI
Trâu Ơi Bố Bảo:
Trâu số đạo hoa, ngàn lẻ thu qua, hay thói quyền bà, sửxanh ghichép, cụ đại vôsong, baybướm lưỡibò, hánhởmulạnh, đầurùa lấpló, trong sứt ngoài thoa, lâm chiến bại hoài. HồQuảng dù mất, NamViệt vẫncòn, Hùng cứ phươngnam, kỳhoa dịthảo, hữuhảo chi bang, chuộngchìu hiếukhách, nhàlành kếtmối, lưumanh chớhòng, Bạchđằng BểĐông, Trườngsa Hoàngsa, duyngãđộctôn, kỳ trung vô địch, cởi cọp Việtnam, lênvoixuốngchó, vàosinhratử, ỷlớnhiếpbé, nuốtxương mắccổ, dỡsốngdỡchết, thamthựccựcthân, lũbay bốláo, đắcchí tiểunhân, nhịn cũng vừa thôi, quântử ratay, bàihọc ngànnăm, tổcha tụibay, báquyền bảláp, rướchoạvàothân, ngậmngùi chínsuối !!/?/!!












凭吾丑告:
女丑讨华, 占有千秋, 婆权成性, 历载叶千, 巨大无双, 蝴蝶婆脷, 汉和岭蛮, 缩头乌龟, 中擦外伤, 坏而恋战, 南越百族, 湖广七雒, 独吾健在, 雄居南方, 旗花移到, 吾邦挚友, 好客有方, 来者良家, 流氓勿忘, 白藤江待, 南杀西杀, 旗中无敌, 维我独尊, 骑越虎也, 上之毋下, 入生出死, 大鱼气小, 急吃豆腐, 九死一生, 贪食疾身, 女等欺人, 小人得志, 甚不可忍, 君子报仇, 十年不晚, 咱走着瞧, 霸权破脷, 惹火烧身, 九泉归依 !!/?/!!


Cảmgiác như Từnguyên “ThuầnViệt” — Và Sựthật Từnguyênhọc Phũphàng
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jun.28.2026
Tácgiả: dchph




1. DẪNNHẬP: KHI CẢMGIÁC TRỞTHÀNH LẬPLUẬN

Trong khônggian mạng Việtngữ, một hiệntượng thúvị đang lanrộng: những người theo thuyết “TiếngViệt có nguồngốc NamÁ” liêntục đưara tháchthức nhằm phủnhận ảnhhưởng của Hánngữ đốivới tiếngViệt.

Họ (1) thường mởđầu bằng một câu tươngtự đầy tínhkhiêukhích:

“Xin các ông Hàn lâm chỉ cho tôi một chữ Tàu trong đoạn văn này.”

Và để tăngphần kịchtính, họ sángtác một đoạnvăn thônquê, mộcmạc, tưởngnhư “thuầnViệt” đến từng hạtbụi, chắc họ đã nặng nát cả óc để nghĩra đoạnvăn sau:


“Thằng bé lom khom theo bố, trong tay là 2 nắmcơm vừng, cùng con trâu ra đồng cầy ruộng.

Trong khi bố nó lẽo đẽo theo con trâu, nó leo trèo hái vài quả sấu, nhai nhồm nhoàm. Chán, nó leo xuống xoi lỗ bắt cáy, bắt còng.

Chợt bố nói gọi, nó tất tả mang cơm và nước vối đến cho bố.

Con trâu thì chậm rãi nằm nhai lại đám cỏ cắn vội trong lúc kéo cày.

Hai bố con vừa ăn cơm vừa kể chuyện xóm làng cùng bữa cơm độn khoai tối nay, chuyện cày bừa cấy lúa từ thời ông bà truyền lại.

Ở cái ao bên cạnh, một con cá lóc bỗng quẫy mình kḥỏi mặt nước.”



Đoạnvăn này đượcdùng như bằngchứng rằng tiếngViệt là ngônngữ NamÁ thuầnkhiết, không vaymượn Hánngữ, và rằng mọi phântích Hán-Việt chỉlà “gánghép”.

Nhưng ngữnguyênhọc không vậnhành bằng cảmgiác. Nó vậnhành bằng đốichiếu lịchsử, âmvịhọc, vănbản Hán-Nôm, và quátrình biếnđổi ngữâm qua nhiều thếkỷ.

Và khi ápdụng phươngphápluận nghiêmngặt, đốivới họ là một kếtquả phũphàng lại hoàntoàn tráingược với niềmtin “thuầnViệt”.

2. ĐOẠNVĂN THÔNQUÊ — VÀ 99.9% TỪ GỐCHÁN

Đoạnvăn được đưara nhưsau đãđược đaâmtiếthoá:

“Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng. Trongkhi bố nó lẽođẽo theo contrâu, nó leotrèo hái vài quảsấu, nhai nhồmnhoạm. Chán, nó leoxuống xoilỗ bắt cáy, bắt còng. Chợt bố nó gọi, nó tấttả mang cơm và nướcvối đến cho bố. Contrâu thì chậmrãi nằm nhailại đám cỏ cắnvội tronglúc kéocày. Hai bốcon vừa ăncơm vừa kểchuyện xómlàng cùng bữacơm độnkhoai tốinay, chuyện càybừa cấylúa từ thời ôngbà truyềnlại. Ở cáiao bêncạnh, một con cálóc bỗng quẫymình khỏi mặtnước.”

Theo phântích ngữnguyên, 99.9% từ trong đoạnvăn đềucó gốcHán, ngoạitrừ 3 từ chưa xácđịnh đíchxác:

quảsấu (酸果 suānguǒ),
nướcvối (水翁 shuǐwēng),
cálóc (鱧魚 lǐyú).

Điềunày không có nghĩa ba từ ấy “thuầnViệt”, mà chỉ có nghĩa: chúng chưađược giảimã hoànchỉnh, nhưng 88% là chúng có khảnăng có gốc Hán!

3. PHƯƠNGPHÁP LUẬN: TỪ ĐAÂMTIẾTHOÁ ĐẾN ĐỐICHẾU HÁN-VIỆT

3.1. Bước 1 — Đaâmtiếthoá

Đây là bước cơbản trong quytrình của bạn: gom các đơnvị nghĩa thành cụm từđaâmtiết để đốichiếu.

Vídụ:


    +thằngbé
    +lomkhom
    +trongtay
    +nắmcơm
    +cơmvừng
    +rađồng
    +càyruộng
    +nướcvối
    +cálóc


3.2. Bước 2 — Đốichiếu từng từ với Hánngữ

Dướiđây là bảng đốichiếu đầyđủ cho toànbộ đoạnvăn — phần 1.

[pre>
4. BẢNG ĐỐICHẾU HÁN‑VIỆT (PHẦN 1)

Từ Hán‑Nôm Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt/Hán‑Nôm)
-----------------------------------------------------------------------
thằngbé 小把戲 xiǎobǎxì tiểubảhí
lomkhom 卷婁 quánlóu dạng đồngnguyên HN: ‘lúicúi’
theo 隨 suí tuỳ
bố 父 fù phụ
trongtay 手中 shǒuzhōng thủtrung
là 是 shì thị
hai 二 èr nhị
nắmcơm 飯團 fàntuán phạnđoàn
mèvừng 芝麻 zhīmá chima
cùng 跟 gēn ân
con 子 zǐ tử
trâu 丑 chǒu sửu
rađồng 下地 xiàdì hạđịa
càyruộng 耕田 gēngtián canhđiền
[/pre>

5. PHẢNBIỆN HỌCTHUẬT (PHẦN 1)

5.1. “ThuầnViệt” như một ảoảnh của nhậnthức

Trong ngônngữ học lịchsử, “thuần” khôngphải là một thuộctính, mà là một cảmgiác. Cảmgiác ấy được hìnhthành bởi:

thói quen ngữâm,
sự quenthuộc ngữcảnh,
kýức tậpthể,
và sựmờhoá của tầng Hán–Việt qua nhiều thếkỷ.
Một từ như thằngbé nghe rất Việt, nhưng khi phântích:

thằng < 小童 xiǎotóng (hợpâm của dạng Háncổ chỉ ‘tiểuđồng’)
bé < 微小 wéixiǎo (hợpâm của từ ‘béxíu’).
Sựbiếnâm qua thờigian khiến ngườithờinay không nhậnra nguồngốc.

6. TẦNG HÁN-VIỆT: CẤUTRÚC, CƠCHẾ, VÀ QUYLUẬT BIẾNÂM (PHẦN 1)

6.1. Hán-Việt không phải “tiếngTàu đọcsai”

Một ngộnhận phổbiến trong tranhluận mạng là:

“Nếu là từ Hán thì phải nghe giống tiếngTàu.”

Nhưng Hán-Việt là một hệthống ngữâm độclập, được chuẩnhoá vào thời Đường, rồi Việthoá qua nhiều thếkỷ (nênnhớ là Việtnam đã trảiqua 1060 năm Bắcthuộc bị Tàu đôhộ.). Nó khôngphải là:

Quanthoại,
Quảngđông,
Ngô-Việt,
hay bấtkỳ phươngngữ Hán hiệnđại nào.

Hán-Việt là vănnói, là một ngưngđọng lịchsử, đóngbăng âmvị Hán-Trungcổ (MC) vào thếkỷ 7–9, rồi trôinổi tự biếnđổi thành Hán-Nôm do ảnhhưởng ngônngữ giaodịch từ Quanthoại mà thành tiếngViệt.

6.2. Cơchế biếnâm: từ Hán-Trungcổ → Hán-Việt → Hán-Nôm → Việt hiệnđại

Đâylà phần mà nhiều người tranhluận thường bỏqua. Họ nhìnvào tiếng Quanthoại hiệnđại rồi sovới tiếngViệt, thấy khônggiống, và kếtluận:

“Khônggiống → khôngphải gốcHán.”

Nhưng đólà một sailầm phươngpháp.

6.3 Hán-Trungcổ (MC) là tầng đốichiếu với Hán-Việt

Hán-Việt (HV) được chuẩnhoá vào thời nhàĐường, tức là dựa trên âm Hán-Trungcổ (MC), không phải Quanthoại hiệnđại.

Vídụ:

耕田 /kajŋdien/ (MC) → canhđiền (HV)
芝麻 /tɕɨma/ (MC) → chimà (HV)
手中 /ɕuwʈuwŋ/ (MC) → thủtrung (HV)

7. TẦNG HÁN-NÔM: CẤUTRÚC, CƠCHẾ, VÀ QUYLUẬT BIẾNÂM

7.1 Quanthoại (Mandarin) là tầng đốichiếu với Hán-Nôm: từ ngônngữnói Quanthoại → Hán-Nôm → Việt hiệnđại

Nếu đốichiếu với Hán-Trungcổ, nếu bạn khôngphải là nhà ngônngữhọc chuyênmôn cólẽ bạn sẽ khó nhậnthấy mối quanhệ của chúng. Nhưng nếu bạn mang chúng ra đốichiếu với âm từ Quanthoại (M) hiệnđại, với mọithứ sẽ trởnên sángtỏ.

耕田 gēngtián (M) → canhđiền (HV) → càyruộng (HN)
芝麻 zhīmá (M) → chimà (HV) → mèvừng (HN)
手中 shǒuzhōng (M) → thủtrung (HV) → trongtay (HN)
隨 suí (M) → tuỳ (HV) → theo (HN)
飯團 fàntuán (M) → phạnđoàn (HV) → nắmcơm (HN)

7.2. Biến đổi phụâmđầu: quyluật, khôngngẫunhiên

7.2.1. /g- → c-(k-)/
gēngtián → canhđiền → càyruộng
gēn → cân → cùng
7.2.2. /zh- → gi-, d-, v-/
zhīmá → chimà → vừng
zhì → chí → đến
7.2.3. /f- → ph- → b-/
fù → phụ → bố
fàn → phạn → bữa(cơm)
7.2.4. /k- → l-/
lǒng → lổng → lỗ (xoilỗ < záolǒng)
7.2.5. /z- → t- → c-/
zǐ → tử → con
7.2.6. /sh- → th-/
shì → thị → (thì)là

Những biếnđổi này khôngphải “ngẫunhiên”, màlà quyluật âmvịhọc.

8. BIẾNĐỔI TỪ QUANTHOẠI SANG VIỆTNGỮ

8.1. Biếnđổi vậnmẫu

8.3.1. /-ing → -inh → -ăng/
dīng → đinh → thằng
8.3.2. /-eng → -anh / -ay/
gēng → canh → cày
8.3.3. /-uan → -oan / -ăm/
tuán → đoàn → nắm

8.4. Biếnđổi thanhđiệu: dấuvết của Hán-Trungcổ

Thanhđiệu Hán-Trungcổ → thanhđiệu Hán-Việt hiệnđại theođúng quyluật, nhưng thanhđiệu tươngứng Quanthoại ~ Hán-Việt lại khônghạnchế:

入聲 rù​shēng (thanhnhập) → sắc / nặng
上聲 shǎngshēng (thanhthượng) → hỏi / ngã
去聲 qùshēng (thanhkhứ) → sắc / ngang
Vídụ:

是 shì (M) → thị (HV) → là (HN)
子 zǐ (M) → tử (HV) → con (HN)
隨 suì (M) → tuỳ (HV) → theo (HN)

9. BẢNG ĐỐICHIẾU HÁN‑VIỆT (PHẦN 2)

[pre>
Từ Hán‑Nôm Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt/Hán‑Nôm)
-----------------------------------------------------------------------
lẽođẽo 尾隨 wěisuí dạng đồngnguyên HN: theođuôi
leotrèo 攀登 pāndēng leotrèo
vài 幾 jǐ kỷ
nhai 咬 yáo ngão
nhồmnhoàm 嚼嚼 jiáojiáo dạng đồngnguyên HN: nhồmnhàm
xoilỗ 鑿窿 záolǒng dạng đồngnguyên HN: đụclỗ (鑿孔 záokǒng)
bắt 捕 bǔ dạng đồngnguyên HN: vồ
cáy 蟹 xiè dạng đồngnguyên HN: ghẹ, khía
còng 螃 páng dạng đồngnguyên HN: ba(khía),
– sosánh: cạnhbên (旁邊 pángbiān)
tấttả 急切 jíqiè cấpthiết
mang 將 jiāng tương
đến 至 zhì chí
nướcvối 水翁 shuǐwēng dạng đồngnguyên HN: tráivối, tràvối
[/pre>

10. PHẢNBIỆN HỌCTHUẬT (PHẦN 2)

10.1. Tạisao từ nôngnghiệp vẫnlà Hán?

Một ngộnhận phổbiến:

“Từvựng nôngnghiệp phải thuộc bảnđịa.”

Những côngtrình khảocổ, từnguyên, và sửliệu cho thấy:

kỹthuật càybừa,
hệ thống canhđiền,
thuậtngữ ruộngđất,
đơnvị đođạc,
côngcụ nôngnghiệp,
đềuđược chuẩnhoá trong thời Bắcthuộc và thời Đường–Tống.

10.2. Từvựng nôngnghiệp vẫnlà Hán:

Điều nên nhớ là nền nôngnghiệp Trungquốc bắtđầu từ thời Thầnnông (神農) từ 5000 nămtrước.

Dođó, những từ như:

cày 耟 jù (HV cự, chỉ ‘cáicày’), 耕 gēng (HV canh),
bừa 耙 bà (bà) (HV bả),
ruộng 甸 diàn (HV điện),
đồng 田 tián (HV điền),
luống 壠 lǒng (HV lũng)
trâu 丑 chǒu (HV sửu),
nắm 團 tuán (HV đoàn),
vừng 芝麻 zhī​mā (HN mèvừng),
xóm 村 cūn (HV thôn),
làng 鄉 xiāng (HV hương)

đều cóthể truynguyên ra nguồngốc Hán.

11. TẦNG HÁNCỔ: LỚP SÂU VÀ KHÓNHẬN NHẤT (PHẦN 1)

11.1. Vìsao ngườita không nhậnra lớp Háncổ?

Nếu bạn có chút amhiểu về ngữâmhọc lịchsử của tiếngViệt, bạn sẽ nhậnthấy lýdo tạisao ở tầng Háncổ này vì chúng:

xuấthiện trước thời Đường,
âmđọc đã biếnđổi mạnh,
ngữnghĩa đã dângianhoá,
nhiều từ đã chuyểnloại,
và khôngcòn giữ hìnhdạng Hán-Việt quenthuộc.

Vídụ:

trâu < 丑 chǒu (HV sửu)
cáy < 蟹 xiè (HV giải)
bakhía < 螃蟹 pángxiè (HN bànggiải) ~ 螃蜞 pángqí (HV bàngkỳ)
ghẹ < 蜞 qí (HV kỳ),

Những từ này nghe “thuầnViệt” vì đã trảiqua 1000–1500 năm Việthoá.

11.2. Cơchế ngữnghĩa dângianhoá

Một từ Háncổ khi đi vào tiếngViệt thường trảiqua ba giaiđoạn:

(1) Nghĩa gốc (Háncổ)

Mang tínhkháiquát, phạmvi rộng.

(2) Nghĩa chuyểnđổi (Hán-Trungcổ → Hán-Việt)

Thuhẹp hoặc mởrộng theo ngữcảnh.

(3) Nghĩa dângian (Việthoá)

Ổnđịnh trong cộngđồng nói tiếngViệt.

Vídụ:

蟹 xiè (cua nóichung) → nghĩa chuyển: ghẹ → nghĩa dângian: cáy
螃蟹 pángxiè (ghẹcòng) → nghĩa chuyển: cua đồng → nghĩa dângian: bakkhía
丑 chǒu (sửu, trong hệ canchi) → nghĩa chuyển: giasúc kéocày → nghĩa dângian: trâu
Những từ này nghe “thuầnViệt” vì đã trảiqua hơn 1000 năm dângianhoá.

12. CƠCHẾ DÂNGIANHOÁ

12.1. Âm Háncổ khi đivào tiếngViệt thường bị:

đồnghóa,
giảnlược,
hoánvị,
rơi phụâm cuối,
đổi thanhđiệu.

Vídụ:

chǒu → trâu (< sửu)
xiè → cáy (< ghẹ)
páng → còng (< cáycòng)
Đâylà lýdo người thờinay ítcó người dễdàng nhậnra là chúng có nguồngốc Háncổ.

12.2. Dấu vết Háncổ trong từ nôngnghiệp Việt

Nhiều từ tưởngnhư “thuầnViệt” thựcra vẫn thuộc tầng Háncổ:

bừa < bừa 耙 bà (HV bà)
ruộng < 壤 rǎng (HV nhưỡng)
đồng < 田 tián (HV điền)
lúa < 稻 dào (HV đạo)
khoai < 薯 shǔ (HV thự)

Đây là lớp từ cổnhất, mờnhất, nhưng lại phổbiếnnhất trong đờisống nôngnghiệp.

13. BẢNG ĐỐICHIẾU HÁN-VIỆT (PHẦN 3)

[pre>
Từ Việt Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt / Hán‑Nôm)
---------------------------------------------------------------------------
chậmrãi 冄冄 rănrăn từ đồngnghĩa HN: 慢慢 mànmàn (chậmrãi)
nhai 咬 yáo ngão + 再 zài (HN: lại)
đámcỏ 草叢 cǎocóng từ đồngnguyên HN: lùmcỏ *
cắn 啃 kěn từ đồngnguyên HN: gặm + 快 kuài (HN: vội)
bốcon 父子 fùzǐ phụtử
kể 講 jiǎng giảng + 傳 zhuàn (HN: chuyện)
xómlàng 鄉村 xiāngcūn hươngthôn *
bữa 飯 fàn 1) từ đồngnguyên HN: buổi
2) từ đồngnghĩa HN: bữa (番 fān) + 粓 gān (HN: cơm)
độn 混 hùn từ đồngnguyên HN: trộn + 薯 shǔ (HN: khoai)
tốinay 今宵 jīnxiāo kimtiêu *
càybừa 備耕 bèigēng từ đồngnghĩa HN: 錢鏄 jiǎnbó (HN: càybừa)
cấy 栽 zāi tài + (1) 來 lái (HN: lúa),
(2) 稻 dào (HN: gạo, lúa)
ôngbà 翁婆 wēngpó dạng đồngnguyên HN: 公婆 gōngpó (HV: côngbà)
truyềnlại 傳下 chuánxià dạng đồngnguyên HN: truyềnxuống
bêncạnh 邊旁 biānpáng từ đồngnguyên 旁邊 pángbiān (HN: cạnhbên) *
quẫymình 搖身 yáoshēn từ đồngnguyên HN: quậymình
mặtnước 水面 shuǐmiàn thuỷdiện *

[/pre>

* cấutrúc từ songâmtiết theo ngữpháp nghịchđảo hay hoánvị (metathesis)

14. PHẢNBIỆN HỌCTHUẬT (PHẦN 3)

14.1. Phảnbiện luậnđiểm “từ nghe Việt là gốc Việt”
Đâylà ngụybiện cảmgiác. Ngữâm biếnđổi qua:

đồnghoá,
giảnlược,
hoánvị,
nghịchđảo,
đồnghóa phụâm,
biếnđổi thanhđiệu.

Một từ có thể nghe rất Việt nhưng vẫnlà Hán.

Vídụ:

thằngbé
xómlàng
độnkhoai
cấylúa

Tấtcả đều cóthể truynguyên ra từ Háncổ và Hán-Trungcổ.

14.2. Phảnbiện luậnđiểm “NamÁ thuầnkhiết”
Lập luận “thuần NamÁ” thường dựatrên:

cảmgiác,
trựcgiác,
sựquenthuộc,
và thiếu kiếnthức về Hán-Việt.
Nhưng dữliệu khảocổ, ngônngữhọc, và vănbảnhọc đều chỉra:

tiếngViệt là một nhánh của ngônngữ BáchViệtcổ (Taic-Yue) bị Hánhoá sâurộng,
hệthống từvựng nôngnghiệp chịu ảnhhưởng mạnh của Hán,
cấutrúc cúpháp ngữpháp trậttự từkép Việt hiệnđại chịu ảnhhưởng của cả hai luồng Háncổ và Hán-Trungcổ, thídụ,
‘bêncạnh’ = ‘cạnhbên’ 邊旁 biānpáng (biênbàng)
‘xómlàng’ = ‘làngxóm’ 鄉村 xiāngcūn (hươngthôn) = ‘thônquê‘, v.v.

15. TẦNG HÁN-NÔM: LỚP VIỆTHOÁ SÂU NHƯNG VẪN TRUYNGUYÊN ĐƯỢC

15.1. Đặcđiểm của tầng Hán-Nôm

Tầng này:

khôngcòn giữ âm Hán-Việt chuẩn,
nghĩa đã dângianhoá,
âmđọc đã Việthoá mạnh,
nhưng vẫn cóthể truynguyên qua vănbản.
Vídụ:

lẽođẽo < 尾隨
tấttả < 急切
nhồmnhoàm < 嚼嚼
quẫymình < 搖身

15.2. Vìsao tầng Hán-Nôm dễ bị nhầm là “thuầnViệt”?

Vì nó:

gầnvới tiếngnói dângian,
mang sắcthái khẩungữ,
âmđọc “mềm”,
nghĩa cụthể,
và xuấthiện trong vănchương bìnhdân.

Nhưng nguồngốc vẫnlà gốcHán.

16. TẦNG HÁN-NÔM: LỚP VIỆTHOÁ SÂU NHƯNG VẪN TRUYNGUYÊN ĐƯỢC (PHẦN 2)

16.1. Tầng Hán-Nôm là một “mảng mờnhạt” trong nhậnthức hiệnđại
Tầng Hán-Nôm là lớp từ:

khôngcòn giữ âm Hán-Việt chuẩn,
nghĩa đã dângianhoá,
âmđọc đã Việthoá mạnh,
nhưng vẫn cóthể truynguyên qua vănbản.

Đây là lớp từ nguyhiểm nhất đốivới những ai tin vào “thuầnViệt”, vì nó:

nghe Việt,
viết Việt,
dùng Việt,
nhưng gốc vẫnlà Hán.

Ví dụ:

nướcvối < 水翁
tấttả < 急切
bốcon < 父子
làngxóm < 鄉村

16.2. Tầng Hán-Nôm và sự hìnhthành “cảmgiác thuầnViệt”

Người Việt hiệnđại thường nhầm tầng Hán-Nôm với “thuầnViệt” vì:

nó xuấthiện trong truyện dângian,
nó gắnvới đờisống thônquê,
nó mang sắcthái khẩungữ,
nó khôngcòn giống Hán-Việt chuẩn.
Nhưng đó chỉlà cảmgiác, khôngphải thựctế từnguyên.

17. PHỤLỤC MỞ RỘNG: 200 MỤC TỪNGUYÊN (TIẾPTỤC)

Từ Việt Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt / Hán‑Nôm)
---------------------------------------------------------------------------
đi 去 qù Nôm: 𠫾 đi (去 + 多 = ‘đi’)
đến 至 zhì = ‘tới’ < 到 dào (đáo)
về 回 huí = 歸 guī (quy)
mang 將 jiāng mang
kéo 牽 qiān kéo, dắt
đẩy 推 tuī đẩy
nhai 咬 yáo nhai
nhồmnhoàm 嚼嚼 jiáojiáo nhồmnhoàm
leo 攀 pān leo < lên
trèo 登 dēng trèo

18. TRIẾTLÝ NGÔNNGỮ — PHẦN 2

‘ThuầnViệt’ là một kýức, khôngphải thựctế từnguyên.

Ngônngữ không thuần. Ngônngữ là dòngchảy.

Cái mà ngườiViệt gọilà “thuầnViệt” thựcra là:

lớp Hán-Việt đã Việthoá,
lớp Hán-Nôm đã mờhoá,
lớp Háncổ đã hoàtan vào tiếngViệt.

“ThuầnViệt” là cảmgiác, không phải dữliệu thựcchất.

(1) Cảmgiác:

Từ Việt Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt / Hán‑Nôm)
---------------------------------------------------------------------------
đồng 田 tián điền = 甸 diàn (điện)
ruộng 壤 rǎng = 田 tián (điền)
bừa 耪 pǎng = càybừa 備耕 bèigēng
khoai 塊 kuài = ‘củ’ 薯 shǔ (thự) → khoai
lúa 稻 dào = 來 lái (Háncổ)

(2) Dữliệu:

Từ Việt Chữ Hán Âm Quanthoại Ghichú (Hán‑Việt / Hán‑Nôm)
---------------------------------------------------------------------------
xóm 村 cūn thôn
làng 鄉 xiāng làng = ‘xóm’ 村 cūn (thôn)
ao 坳 ào = ao 澳 ào (úc)
nước 水 shuǐ = đák 淂 dé (đắc)
quẫy 搖 yáo nguẫy

19. TÌMLẠI LỚPNỀN BỊ CHEPHỦ

19.1. “Tầng NamÁ thựcsự là tầng BáchViệtcổ trong tiếngViệt”

Lýthuyết NamÁ lậpluận rằng nếu tầng Hán trong tiếngViệt là lớp phùsa dày hàngnghìn năm, thì tầng NamÁ là lớp đấtnền BáchViệtcổ — cổhơn, sâuhơn, và khónhìnthấyhơn. Nó không nằm ở những từ “nghe Việt”, mà nằm ởchỗ:

cấutrúc hìnhthái,
hệthống thanhđiệu,
lớp từ cơbảnnhất của đờisống,
và những từ chỉ tứchi thânthể, độngtác nguyênsơ, hiệntượng tựnhiên mà có.

19.2. Tầng NamÁ khôngphảilà “nhữnggì phi gốcHán!”

NamÁ là là một hệthống có quyluật, cóthể nhậndiện bằng:

đốichiếu Mon-Khmer,
đốichiếu Munda,
đốichiếu Khmer cổ,
và các ngônngữ NamÁ còn tồntại.

20. VẬY TẦNG NAMÁ LÀGÌ?

Trong ngônngữhọc lịchsử, “NamÁ” (Austroasiatic) là họ ngônngữ gồm:

Mon-Khmer (Cambốt)
Munda (Ấnđộ)
Việt-Mường (Việtcổ)
Jrai, Khmu, Bahnar, Sedang, Mạ, Stiêng, v.v.

Nếu TiếngViệt thuộc nhánh Việt-Mường nằm trong ngữhệ NamÁ, thì tầng NamÁ trong tiếngViệt phảilà:

lớp từ cómặt trướckhi tiếpxúc Hán,
lớp từ cơbảnnhất,
lớp từ có đốichiếu rõràng với Mon-Khmer,
lớp từ khôngthể giảithích bằng Hán-Việt.

20.1. Đặcđiểm của tầng NamÁ

20.2. Đơnâmtiết gốc NamÁ → đaâmtiết Việt hiệnđại

Vídụ:


    +mắt < mat (Mon–Khmer) > conmắt (Coichừng: 目 mù, HV mục, Hảinam: /mat5/)
    +tai < taːj > lỗtai (Coichừng: 耳朵 ěrduō)
    +răng < raŋ > răngcỏ (Coichừng: 牙齒 yáchǐ)
    +lưỡi < lɨəj > cáilưỡi (Coichừng: 脷 lěi)

    21.2. Từ chỉ thânthể là lớp NamÁ mạnhnhất

    Đây là quyluật chung của mọi ngônngữ: từ chỉ thânthể là lớp bảothủnhất, ít vaymượn nhất.

    Vídụ:


      +đầu (Coichừng: 頭 tóu)
      +mắt (Coichừng: 目 mù, HV mục, Hảinam: /mat5/)
      +tai (Coichừng: 聃 dān)
      +răng (Coichừng: 齡 líng)
      +lưỡi (Coichừng: 脷 lěi)
      +bụng (Coichừng: 腹 fù)
      +máu (Coichừng: 衁 huāng)
      +xương (Coichừng: 腔 qiāng)


    Tuy tấtcả những từ kểtrên đềucó đốichiếu Mon-Khmer, nhưng đềucó tươngứng Hán-Nôm (Xem tiếp phầnsau).

    21.3. Từ chỉ tựnhiên cũnglà lớp NamÁ

    Vídụ (Xem tiếp phầnsau):


      +lửa
      +nước (NamÁ + Hán trùng nghĩa)
      +mưa
      +gió
      +sấm
      +sét
      +đá
      +cây


    21.4. Từ chỉ độngtác nguyên sơ

    Vídụ (Xem tiếp phầnsau):


      +ăn
      +uống
      +đi
      +đứng
      +ngồi
      +nằm
      +chạy
      +khóc
      +cười



    Từ Việt NamÁ Ngônngữ đốichiếu Ghichú: từ gốcHán?
    ---------------------------------------------------------------------------
    mắt mat Mon–Khmer 目 QT mù (HV: mục)
    tai taːj Khmer không vay Hán: 耽 dān, 耷 dā (> tai?)
    răng raŋ Mon–Khmer MK cổ hơn Hán: 齡 líng (linh) mớiđây?
    牙 yá (HV nha, HN ngà) vẫnlà cổnhất
    lưỡi lɨəj Khmer 脷 lěi (lợi)
    bụng buŋ Mon–Khmer 腹 fù (phúc)

    22. BẢNG ĐỐICHIẾU TẦNG NAMÁ VỚI HÁNNGỮ (PHẦN 1)

    23. TỪ NAMÁ CHỈ ĐỜISỐNG NÔNGNGHIỆP

    Điều thúvị: tấtcả từ nôngnghiệp đềulà đồngnguyên với Hánngữ, chỉ có mộtsố từ thuộc tầng NamÁ:

    cấy = 栽 zāi (Hán + NamÁ trùng nghĩa)
    gặt = 穫 huò(HV hoạch)
    gánh = 抗 kàng (HV kháng)
    đập = 砸 zá (HV tạp)
    rẫy = 壤 rǎng (HV nhưỡng)
    nương = 壤 rǎng (HV nhưỡng)
    luống = 壟 lǒng (HV lũng)
    Đâylà lớp từ gắnvới nôngnghiệp rẫy, trướckhi ngườiViệt tiếpthu kỹthuật luánước (水稻 shuǐ​dào) từ phương Bắc.

    24. TỪ NAMÁ CHỈ HIỆNTƯỢNG TỰNHIÊN

    Vídụ:

    lửa < pləː (Khmer) = 火 huǒ (HV hoả)
    mưa < mɨə = 雨 yǔ (HN vũ)
    gió < caw = 風 fēng (HN giông > gió)
    sấm < səm = 霆 tíng (HV đình)
    sét < sat = < ‘sấm’ 電 diàn (điện)
    đá < daː = 石 shí (< OC *djag, sosánh HN ‘tạ’ < QT /dàn/)
    cây < kəj = 棵 kē (HV khoá)
    Đâylà lớp từ đúnglýra thìlà không vaymượn từ Hán, cóphải vậy là từ tươngứng là NamÁ trướckhi có sựtiếpxúc?

    25. TỪ NAMÁ CHỈ ĐỘNGTÁC NGUYÊNSƠ

    Vídụ:

    ăn < ʔan
    uống < ʔoŋ
    đi < tiː
    đứng < tɨŋ
    ngồi < ŋoːj
    nằm < nam
    chạy < caj
    khóc < krok
    cười < kriəj
    Đây là lớp từ bảothủ nhất trong tiếngViệt.

    26. BẢNG ĐỐICHIẾU TẦNG NAMÁ (PHẦN 2)

    Từ Việt Dạng NamÁ Đốichiếu Ghichú
    ---------------------------------------------------------------------------
    ăn ʔan Mon–Khmer HN 唵 ǎn (àm)
    uống ʔoŋ Mon–Khmer 飲 yǐn (ẩm) = Quảngđông /jam3/
    đi tiː Khmer 去 qù (HV khứ)
    đứng tɨŋ Mon–Khmer 站 zhàn (HV trạm)
    ngồi ŋoːj Khmer 坐 zuò (HV toạ)

    vânvân và vânvân…

    27. TẦNG NAMÁ TRONG CẤUTRÚC NGỮPHÁP

    Đây là phần lýthuyết NamÁ nổibật: cúpháp tiếngViệt là NamÁ, không phải Hán.

    Ví dụ:

    trậttự {Chủtừ +Độngtừ + Túctừ (S+V+O)}
    tỉnhtừ đứngsau danhtừ
    phótừ đứngtrước độngtừ
    từláy
    cấutrúc songâmtiết
    từ chỉ sốlượng đứngtrước danhtừ
    Những đặcđiểm này khôngphải Hán, màlà đặctrưng NamÁ.

    28. TRIẾTLÝ NGÔNNGỮ

    28.1. Tầng NamÁ là “xươngsống”, tầng Hán là “cơbắp”.
    Thuyết NamÁ: TiếngViệt khôngphải Hán.

    Phảnbiện: Nhưng qua những phântích trong bài nầy, tiếngViệt cũng không phải thuần NamÁ.

    Vậy, nó làgi? Nó là:

    xương BáchViệtcổ,
    cơbắp Hán,
    dathịt Nôm,
    hơithở Việt!

    29. Tầng NamÁ là têngọi khác của tầng BáchViệtcổ
    Tầng BáchViệt khôngphải là NamÁ trong tiếngViệt không nằm ở những từ “nghe Việt” vì tiếngViệt nghe phảicó thanhđiệu, thanhđiệu có hệthống.

    Từ NamÁ chỉ cóthể hiện diện ở lớp từ cổnhất của đờisống. Đólà những từ chỉ:

    thânthể,
    tựnhiên,
    độngtác nguyênsơ,
    cảmxúc,
    cấutrúc cúpháp,
    Nếu khôngphải là tầng NamÁ, nó phảilà thuộc tầng Hán, dùcho đólà lớp phùsa bồiđắp phíatrên tầng BáchViệt (Taic-Yue) là địatầnggốc, nơi tiếngViệt cắmrễ sâunhất.

    30. KẾTLUẬN

    Đoạnvăn thônquê tháchthức của đềbài này không chứngminh tiếngViệt “thuần NamÁ”.

    Nó chứngminh điều ngượclại: Hánngữ đã thấmvào mọi tầnglớp từvựng tiếngViệt, kểcả những từ tưởngnhư “quêmùa” nhất.

    Ngữnguyên học không hỏi:

    “Từ này nghe Việt hay nghe Tàu.”

    Nó hỏi:

    “Từ này xuất hiện ở đâu trong vănbản cổ?

    Âm đọc của nó khớp với tầng Hán nào?

    Nghĩa của nó biến đổi ra sao qua các thếkỷ?”

    Và khi trảlời bằng dữliệu, khôngbằng cảmgiác, ta thấyrõ khi dịchsát suônsẻ ra Quanthoại hiệnđại nhưng chúngta vẫncòn nhậnthấy cấutrúc âmvận gầngiốngnhư tiếngViệt. Đố ai dịchra tiếng Campuchia mà còn nghe giốngnhư tiếngViệt! Phũphàng thay, bẽbàng thay!



    Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng.
    「小童 彎著腰 跟在 父親 後面, 手裡 捧著 兩團 芝麻飯, 和 水牛 一起 下田 耕地。
    Trongkhi bố nó lẽođẽo theo contrâu, nó leotrèo hái vài quảsấu, nhai nhồmnhoạm.
    父親 慢吞吞 地 跟著 水牛, 他 卻 爬上樹 摘了 幾顆 酸果, 邊嚼 邊咬 得 滿嘴 都是。
    Chán, nó leoxuống xoilỗ bắt cáy, bắt còng.
    厭了, 他 又 溜下來, 在 洞裡 挖抓 田蟹、 抓 螃蟹。
    Chợt bố nó gọi, nó tấttả mang cơm và nướcvối đến cho bố.
    猝然 父親 叫他, 他 便 急急忙忙 把 飯 和 水翁茶 送過去。
    Contrâu thì chậmrãi nằm nhailại đám cỏ cắnvội tronglúc kéocày.
    水牛 則 慢慢 躺著 倒嚼 剛才 拉著 犁 時 咬下 的 草。
    Hai bốcon vừa ăncơm vừa kểchuyện xómlàng cùng bữacơm độnkhoai tốinay, chuyện càybừa cấylúa từ thời ôngbà truyềnlại.
    父子倆 一邊 吃飯 一邊 聊著 村裡 的 事, 還有 今晚 的 番薯飯, 以及 從 祖輩 傳下來 的 耕田 插秧 的 故事。
    Ở cáiao bêncạnh, một con cálóc bỗng quẫymình khỏi mặtnước.
    在 旁邊 的 池塘裡, 一條 鱧魚 突然 翻身 躍出 水面。」
    99.9% đoạnvăn ‘thuầnViệt’ kia là Hánhoá.


    =================================

    Sáchthamkhảo

    Alves, Mark. The Vietic Languages: A Phylogenetic Overview. 2015.

    Baxter, William H., and Laurent Sagart. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford: Oxford University Press, 2014.

    Campbell, Lyle. Historical Linguistics: An Introduction. Cambridge, MA: MIT Press, 2013.

    Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1991.

    Diffloth, Gérard. “The Contribution of Linguistic Palaeontology to the Homeland of Austroasiatic.” 2005.

    Edgerton, Franklin. Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar and Dictionary. New Haven: Yale University Press, 1953.

    Ferlus, Michel. “Nouvelles données sur l’histoire de la langue vietnamienne.” 1992.

    Fox, Anthony. Linguistic Reconstruction. Oxford: Oxford University Press, 1995.

    Haudricourt, André-Georges. “De l’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique, 1954.

    Jenny, Mathias, and Paul Sidwell, eds. The Handbook of Austroasiatic Languages. Leiden: Brill, 2015.

    Maspero, Henri. Études sur la phonétique historique de la langue annamite. 1912.

    Monier-Williams, Monier. Sanskrit–English Dictionary. Oxford: Oxford University Press, 1899.

    Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận. Hà Nội: NXB Văn học, 1992.

    Nguyễn Quang Hồng. Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến. Hà Nội: NXB Giáo dục, 2008.

    Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán–Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1979.

    Norman, Jerry. Chinese. Cambridge: Cambridge University Press, 1988.

    Pulleyblank, Edwin G. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press, 1984.

    Shorto, Harry L. A Mon–Khmer Comparative Dictionary. Oxford: Oxford University Press, 2006.

    Sidwell, Paul. The Austroasiatic Languages: A Typological Overview. 2015.

    Thomason, Sarah, and Terrence Kaufman. Language Contact, Creolization, and Genetic Linguistics. Berkeley: University of California Press, 1988.

    CƯỚCCHÚ

    (1)^ Đạitừ “họ” dùng ở sốít: Về cáchdùng đạitừ, một trong những ứngdụng ngoạilai đã trởthành của riêngmình, một tácgiả ghinhận rằng họ ở sốít ngàycàng được côngnhận như một lựachọn thựctiễn thaythế cho nhiều đạitừ chỉ sốtít hay sốnhiều, có tínhphái hay trungtính, thídụ, “nó”, “ổng”, “bả”, “ngườita”, “chúngnó”, “bọnhọ”… trong nhiều ngữcảnh khácnhau. Ta phải ghinhậnrằng đâylà một thănghoa trong sựpháttriển ngônngữ. Tácgiả hyvọng là mộtngày nào đó tiếngViệt sẽ lại tiếpnhận hoặc sángtạo thêm một đạitừ ngôinhất và ngôihai nữa tươngtự như “je”, “moi”, “Vous”, “toi”, “I”, “you”, “s/he” của tiếng Anh hay Pháp để thănghoa phát thêm những ýniệm mới trong tiếngViệt ngoài tiếng “mày”, “tao”… đãcó rồi.

    Về từ dùng ở sốtít nầy cáchdùng này rất giống cách dùng they trong tiếngAnh. The Washington Post đã chínhthức đưa cáchdùng này vào sổtay biênsoạn của họ vào tháng 12 năm 2015, và U.S. Examiner cũng làmtheo vào ngày 22 tháng 9 năm 2016. Thêmvàođó, they được Hiệphội Phươngngữ Hoakỳ (American Dialect Society) bìnhchọn là “Từ của Năm” vào năm 2015.




» Gópý

ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC - SONG THAO
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jun.26.2026
By: Song Thao
Re-posted by: dchph


Nhà văn Đỗ Duy Ngọc ra đời tại Quảng Bình, di cư năm 1954, học hành tại Đà Nẵng, trưởng thành tại Sài Gòn. Tôi ra đời tại Hà Nội, di cư năm 1954, sống tại Sài Gòn. Chúng tôi có những điểm chung trừ sanh quán. Vậy mà sao ông lại có những hồi ức về ăn uống thời trẻ giống tôi. Chẳng hạn như ông tàu bán đậu phụng rang húng lìu. “Đó là một ông người Hoa khoảng năm sáu chục tuổi, người hom hem, mặc bộ đồ “xá xẩu” đen, có khi màu xám cũ kỹ. Áo có hai vạt như như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa, ông mặc cái “quần tiều” dài quá đầu gối một chút, ống rộng. Ông đội cái nón rộng vành đan bằng tre, đỉnh nón nhọn, nhìn như các hiệp khách giang hồ trong phim kiếm hiệp Hồng Kông.

Ông mang trước ngực một thùng thiếc vuông, có lẽ là thùng bánh biscuit Lu, một loại bánh tây nổi tiếng thời ấy. Trong thùng đựng đậu phụng rang. Khi có khách ông lấy ra một gói giấy cuốn nhọn đầu bé tí, bỏ vào khoảng hai chục hạt đậu rang. Ít thế nên lúc nào ăn cũng còn thèm…Đậu rang của ông thơm húng líu, mùi từa tựa như ngũ vị hương… Đậu phụng rang húng lìu của ông này ngon lắm, thơm, bùi,béo giòn ăn mãi không ngán. Nó có một mùi thơm rất đặc biệt. Nó cũng là món ăn vặt của tuổi thơ tui”. Nếu ông Đỗ Duy Ngọc rộng lượng mang ông già tầu này từ Đà Nẵng ra Hà Nội, đặt vào tháp Hòa Phong bên hồ Hoàn Kiếm Hà Nội thì đúng là ông tầu bán phát xa húng lìu thời thơ ấu của tôi. Trên đường tới trường Dũng Lạc, hầu như ngày nào tôi cũng phải ghé tới tháp Hòa Phong nộp tiền cho ông già có bộ răng lúc nào cũng nhe ra như cười. Sao cái bốc tay của ông đểu tới như vậy. Thọc sâu vào hộp lạc rang một cách mạnh bạo nhưng móc ra chỉ chục hột cho vào cái tổ sâu kèn bằng giấy.

Những ngày Hà Nội đó, chuyện ăn uống của chúng tôi quanh bờ hồ hay trước cửa trường Dũng Lạc ngày đó vẫn bám lấy ký ức của tôi. Món bánh mì của mấy đứa trẻ ôm bao bố chứa những chiếc bánh mì nho nhỏ bán dạo quanh hồ, phía trước cửa báo Cải Tạo, ngon hết biết. Chú nhỏ rọc bánh theo chiều dọc, nhét vào miếng ba-tê mỏng dính, rắc muối tiêu, vậy là xong. Chỉ có vậy sao ngon ơi là ngon. Bánh mì giò chả của anh chàng Lý bán trước cửa trường còn ngon ác ôn hơn. Nhưng dễ chi gặm được ổ bánh mì của chàng Lý được chúng tôi gọi thân mật là Lý Toét dù mắt anh không toét! Phải chi ra số tiền gấp bội bánh mì bờ hồ.

Ông Đỗ Duy Ngọc cũng nhắc tới “thần tượng” của chúng tôi ngày đó. Nhưng ông chỉ biết ông Lý Toét khi ông đã di cư vào Sài Gòn, trở thành cụ Lý Toét. Từ Hà Nội vào Sài Gòn, bánh mì Lý Toét vẫn là bánh mì Hà Nội. “Bánh mì cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh rờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xé ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không ba-tê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả. Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương”.

Di cư vào Sài Gòn năm 16 tuổi, thế hệ của tôi dễ hòa nhập vào Sài Gòn. Nếu tuổi thơ của tôi là Hà Nội thì tuổi thanh niên là Sài Gòn. Cả hai nơi đều là những tháng ngày hạnh phúc mà chuyện ăn uống góp một phần lớn vào hạnh phúc đó. Cụ Lý Toét là cái gạch nối giữa hai thành phố, nhưng phá lấu, nước mía thì đặc sệt Sài Gòn. Hơn hai chục năm sống ở Sài Gòn, đi học rồi đi làm, cu ky một mình rồi bồ bịch, thú “ăn mà không chơi” vẫn dính lấy những người Hà Nội chuyển sang Sài Gòn thời đó. Ông Đỗ Duy Ngọc “ăn mà không chơi”. Chữ “chơi” của ông được giải thích như sau: “Đặt tên sách “Ăn Mà Không Chơi” vì tôi chỉ rành ăn mà không biết gì các món chơi bời của Sài Gòn”.

Khi mới tới nhà ông Luân Hoán nhận cuốn sách, đọc cái tựa, tôi lại nghĩ khác. Người ta thường nói “ăn chơi ngon hơn ăn thiệt” để diễn tả cái “chơi” ăn đứt cái “thiệt”.

Những ngày những năm Sài Gòn, ăn chơi không thể nào bỏ qua món phá lấu, bò khô, nước mía tại góc đường Lê Lợi – Pasteur. Thỉnh thoảng, nhớ Sài Gòn, tôi vẫn vào YouTube coi các clip quay cảnh phố phường Sài Gòn. Khi ống kính quay tới cái ngã tư “ăn chơi” này, tôi không thể nén tiếng thở dài. Tòa nhà có hai chữ “Viễn Đông” nghễu nghện nay đã không còn dấu vết. Đó là thiên đàng ăn chơi, hiểu theo nghĩa ăn chơi ăn thiệt, của chúng tôi ngày đó. Chúng tôi đây nhất định không thể thiếu ông sành ăn Đỗ Duy Ngọc

Tôi phải thú nhận chết mê chết mệt với món bò khô, còn gọi là gỏi khô bò. Từ những ngày Dũng Lạc. Hồi đó ít có ngày tôi không mải mê với tiếng kéo lách cách rao hàng của ông bán bò khô trước cửa trường. Chỉ là những lát đu đủ, chút rau thơm, khô bò, thêm xì dầu, giấm, tỏi, ít tương ớt mà sao ngon lạ ngon lùng. Nhìn hai tay ông điệu nghệ hai chai, một trắng chứa giấm tỏi, một nâu sậm xì dầu, rắc đều xuống đĩa gỏi, đã thấy ngon. Cái ngon đó tôi bắt gặp lại tại Sài Gòn. Ông Đỗ Duy Ngọc cũng rứa. Cho tới nay tôi đã từng nếm thử gỏi khô bò tại nhiều tiệm ở Montreal này mà chưa bắt được cái vị của bò khô Pasteur. Ông Đỗ nhem thèm: “Chủ chiếc xe bò khô là một ông Bắc kỳ tuổi trung niên, chuyên mặc bộ đồ đen, đôi khi hiếm hoi cũng mặc chiếc áo nâu. Chiếc xe đẩy của ông chứa trọn bộ đồ nghề. Ở giữa là những chiếc đĩa nhôm, một bên đựng bò khô, bên kia chứa đu đủ bào. Phần còn lại để mấy chai nước tương, ớt, giấm. Khô bò của ông ngon vô phương. Vừa bùi lại vừa giòn, ngòn ngọt, cay cay. Miếng bò khô thơm phức, dày, hơi đen cháy cạnh chứ không đỏ như khô bò của người Hoa. Khô của ông được chế biến từ lá lách bò, thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, nhai sướng miệng lắm. Hồi đó xe gỏi của ông nổi tiếng Sài Gòn không chỉ khô bò ngon đặc biệt mà nước chan giấm ớt, nước tương cũng ngon hết biết. Ăn một đĩa chưa đã thèm, ăn thêm đĩa nữa lại muốn ăn thêm. Miệng đã thấy cay, má đã hơi bừng bừng, mồ hôi rịn trên mắt, đã gì đâu”.

Xe nước mía Viễn Đông kế bên là thứ nước làm dịu đi cái cay cay xoắn xuýt miệng lưỡi. Ly nước mía vừa ép ra, tươi mát, ngọt thanh, bọt trắng bám quanh thành ly, uống tới đâu ruột gan nở ra tới đó.

Linh hồn của khu ăn chơi này là những mẹt phá lấu. “Trên khay để đầy phá lấu nhiều màu, toàn những màu sẫm là lòng heo, dồi trường, tim, lưỡi, lá sách, bao tử, gan, ruột non, phèo, phổi. Nói chung là toàn bộ đồ lòng của con heo lại thêm lòng gà đầy đủ gan, tim, ruột lòng thòng xoắn xoắn. Miếng phá lấu được cắt nhỏ lủm một miếng chưa đầy miệng, cắm một cây tăm. Trên khay còn có tương đen, tương đỏ. Khách lái xe xuôi đường Pasteur, thắng xe ghé lại, thích gì ăn nấy, cây tăm khi đã bỏ miếng phá lấu vào miệng thì chú Ba Tàu lại ghim một cây tăm khác vào cổ tay của ông, có sợi cao su buộc ngang. Khách ăn xong chú Ba căn cứ vào số tăm trên tay mà tính tiền. Miếng phá lấu ở đấy bây giờ nhớ lại thấy ngon lạ lùng. Miếng lá sách có gai như miếng khăn lông nhai sần sật, miếng ruột non, ruột già beo béo, miếng gan bùi bùi, miếng lưỡi, miếng phèo hơi dai càng nhai càng ngọt mùi…

Gần nửa thế kỷ rồi, nhắc lại món phá lấu ở địa chỉ ấy bỗng dưng trên đầu lưỡi phảng phất cái mùi ngũ vị hương, cái mùi húng lìu, nước tương hòa lẫn vị béo, dai, bùi của phá lấu năm xưa. Nhắc để gậm nhấm kỷ niệm của một thời chở cô bạn gái ghé vào đây, hoặc đi với mấy thằng bạn, chấm chấm, nhai nhai sao đời nghèo mà vui thế”. Bao nhiêu năm ở Sài Gòn là bấy nhiêu năm tôi la cà nơi chốn “thiên đàng” này. Từ những ngày học sinh dắt chiếc xe đạp, tới những ngày trưởng thành đi làm, lên đời xe máy rồi xe vespa. Từ những lao xao bạn bè tới những hân hoan người tình, những ngày tháng chẳng bao giờ quên được.

Ông Đỗ Duy Ngọc chơi ác. Vết nhớ chưa liền da đã bị ông vực dậy làm thêm phần ray rứt. Thành phố đó đã chở chuyên những tháng ngày ngọt lịm của thế hệ tôi, thư sinh rồi râu tóc vào đời. Trách ông nhưng cũng ơn ông đã cho tôi một lần sống lại quá khứ ngọt ngào của lớp tuổi đẹp nhất trong đời.

Trong 350 trang sách gồm 85 bài viết, tác giả đã bàn tới nhiều món ăn chơi cũng như ăn thiệt. Thiệt là một tay hảo ăn. Tôi vốn khoái nước mắm và các thứ mắm, từ mắm tôm mắm tép tới mắm ruốc mắm rươi nên không thể không đu đưa về những bài ông viết về nước mắm và mắm. Có tới bốn bài lận. Nước mắm là thứ được chế biến từ cá và muối. Đó là thứ nước mắm truyền thống. Ngày nay người ta giết chết nước mắm khi thứ nước mắm bán trên thị trường phần lớn là nước mắm công nghiệp pha bằng hóa chất. Ông gọi đó là thứ nước mắm giả của những kẻ thiếu lương tâm. Tôi cũng đã nhiều lần viết về chuyện giả thật của nước mắm, điều mà ngay các bà nội trợ nhiều bà vẫn không phân biệt được. Ông Đỗ coi bộ phẫn nộ hơn tôi. “Trước 1975, ở miền Nam, luật pháp khá rõ ràng, kỷ cương còn được tôn trọng. kẻ phạm pháp sẽ bị trừng trị đích đáng, do đó việc làm giả nước mắm khó hoạt động và không phổ biến.

Giờ đây, chính những kẻ cầm cân nảy mực, thi hành luật pháp lại tiếp tay mở đường cho nước mắm giả với cái tên mỹ miều là “nước mắm công nghiệp” và họ tìm mọi cách để những thứ giả này xuất hiện trên bàn ăn của những gia đình người Việt. Loại này không thể gọi là nước mắm bởi nó không làm ra từ cá và muối mà từ những hương liệu và hóa chất. Gọi tên cho đúng thì đó là “nước chấm công nghiệp”. Một chai gọi là nước mắm đó cõng trên nó 17 lọai hóa chất, thế thì sao gọi là nước mắm được”.

Tôi mê phở, chuyện thường. Dân Hà Nội mà không mê phở mới là chuyện đáng nói. Nhưng dân Quảng Bình, sống tại Đà Nẵng và Sài Gòn như ông Đỗ Duy Ngọc mê phở như mê người tình mới là chuyện lạ. Ông viết về Phở Hoàng, Phở Minh, Phở “Cậu Hai Sài Gòn”, Phở Kỳ Đồng, Phở Lý Quốc Sư, Phở gà Hà Nội, Phở Cao Thắng nhưng tâm ông dành trọn cho Phở Dậu. Chà! Phở Dậu! Tôi với ông ý hợp tâm đầu dữ.

Nhà văn Đỗ Duy Ngọc đã trên năm chục năm liên tục say đắm phở Dậu, trừ ít năm qua Pháp. Tôi cũng là fan cứng chỉ ít lâu sau khi phở Dậu ra lò vào năm 1958 cho tới khi tôi đi Canada vào năm 1985. Bà Dậu là người tiên phong mở quán nhưng sau đó nhường tiệm lại cho bà Uy. Tiệm ngày đó xộc xệch, bàn ghế vá ráp, không tên tuổi chi. Gọi phở Dậu là thực khách truyền miệng nhau thôi. Còn tiệm không bảng hiệu chi cả. Gọi là tiệm cũng là khiên cưỡng. Nó như một quán nhỏ thân tình, thực khách hầu như đều biết nhau. Bà Uy thì biết từng sở thích của khách. Ông Đỗ nhớ lại: “Hồi đó chỉ là một quán phở nhỏ lợp tôn, trên có chừa một khoảng trống lớn, nắng dọi vào làm thành một vệt ánh sáng mà mấy cha nhiếp ảnh rất mê. Luồng sáng dọi xuống trên người hai bà cụ với làn khói xanh từ bếp củi bay lên rất là nhiếp ảnh. Người bán là hai bà cụ già, nên tôi gọi là phở bà cụ. Ngày trước dân văn nghệ thường ăn sáng tại đây. Tui thường gặp họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn”.

Phở Dậu ngày cũ là phở nhà, nơi ai cũng biết nhau. Sau 1975, muốn biết tin tức bạn bè, ai dzọt được, ai đi tù chưa về, ai vượt biên bị tóm, cứ tới phở Dậu khắc biết. Trong một bài viết về phở Dậu, tôi đã ghi: “Sau 1975, phở Dậu là ngã ba hẹn hò của giới ăn phở Dậu trước đó, khi thành phố chưa đổi tên. Ngày đó, bạn bè chúng tôi tan tác sau cơn bão dữ, ai còn, ai đi thoát, ai chưa “cải tạo” về, cứ tới phở Dậu là biết hết. Gọi là “ngã ba hẹn hò” cho thêm phần tình cảm chứ thật ra chúng tôi chẳng ai hẹn ai. Cứ thuận chân tới. Tới sẽ gặp. Gặp rồi đấu láo chửi thề. Thường chúng tôi mắng mỏ nhau sao chậm lụt thế. Trông thấy cái mặt nào còn trình diện là thêm một ngao ngán.

Chuyện đi đứng có lẽ là chuyện rổn rảng nhất. Tôi có giấy bảo lãnh đi Canada. Bà Uy mà ai cũng mặc nhiên tưởng bà tên Dậu, cũng cùng một trường hợp. Bà và tôi có thêm thân tình của người đồng hội đồng thuyền. Bà ôm riết tiệm chẳng có thời giờ. Tôi rảnh chân chạy chỗ này chỗ kia nên có một số tin tức. Mỗi lần tôi tới, bà ngước mắt hỏi. Chúng tôi lại to nhỏ. Có lần bà xếp tôi ngồi vào góc chiếc bàn trong bếp, bên cạnh những hành ngò, nằm bẹp giữa những thùng bánh phở, những chậu xương còn máu me đỏ lòm. Chẳng phải để bàn chuyện bí mật quốc gia chi mà chỉ vì tiệm hết chỗ”.

Viết tới đây tôi thấy mình vô duyên hết cỡ. Tôi đã lợi dụng cuốn “Ăn Mà Không Chơi” của nhà văn Đỗ Duy Ngọc để mang chuyện ăn uống của tôi hồi nhỏ ra chèn ép cuốn sách. Sách không chỉ bàn tới phát xa húng lìu, bánh mì Lý Toét, bò khô, phá lấu và nước mía Viễn Đông, nước mắm và mắm, hay phở Dậu. Trong 85 bài viết, tác giả đã dành nhiều trang cho các món khác. Món cá chuồn, các món xứ Quảng, bún suông, mì Cao Vân, món Huế, cháo huyết, cháo lòng, rươi, con bù tọt, xe mì, khoai lang khô ngào đường, bún cá ngừ, cá kình, cá đối cồi, cá ồ, cá hố kho dưa cải, cá he, hủ tiếu sa tế nai, lòng heo xào nghệ, bún bò Huế, canh mít non, bún ốc, hủ tiếu Thanh Xuân, bánh canh, chả cá, mắt cá ngừ đại dương hầm thuốc bắc, thịt vịt, món xà bần, bún vịt, canh cá giếc nấu rau răm, hột vịt lộn, cá chép cá trắm kho. Đủ thập bát ban đớp hít.

Nhà văn Đỗ Duy Ngọc hiện sống tại Sài Gòn, đánh bạn với hai ông Tiến Chỉnh và Đỗ Trung Quân. Ông Tiến Chỉnh trước đây là tay guitar bass trong ban nhạc trẻ nổi tiếng Spotlight hát hò cùng với các ông Đức Huy, Billy Shane. Sau chán cây đàn ông gia nhập không quân lái máy bay chiến đấu Skyraider bắn đì đoàng. Ông này cũng là đệ tử ruột của phở Dậu, luôn rủ tôi về tới Dậu ăn cho thỏa chí tang bồng. Ông Đỗ Trung Quân, chắc cũng có máu Bắc kỳ vì ông là dân Ngã Ba Ông Tạ, lại chống phở Dậu mà phò mì Quảng. Xin mách với ông là trong cuốn sách này ông Đỗ Duy Ngọc có tới hai bài viết về mì Quảng. Thấy chưa, ông Đỗ chơi với bạn rất chí tình, cỡ nào ông cũng chiều được!

Đọc xong cuốn “Ăn Mà Không Chơi” tôi khoái ông Đỗ Duy Ngọc hơn. Chúc ông răng cứng lưỡi mềm để tiếp tục nếm các món ngon vật lạ, độc giả của ông, trong đó có tôi, sẽ lại được ăn hàm thụ. Ăn giả mà ngon như ăn thiệt!

Song Thao


» Gópý

Ziendan.com is coming home...
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jun.23.2026


» Gópý

Bàiviết / Ýkiến mới đăng
Cảmgiác như Từnguyên “ThuầnViệt” — Và Sựthật Từnguyênhọc Phũphàng
Tácgiả: dchph
ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC - SONG THAO
Tácgiả: dchph
Ziendan.com is coming home...
Tácgiả: dchph
Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU
Tácgiả: dchph
Linguistic, Archaeological, and Historical Evidence: Comparative Sino-Tibetan Etymologies
Tácgiả: dchph
Vietnamese2020 Orthography
Tácgiả: dchph
Xin Đừngcó MùaĐông - - Trúc Giang
Tácgiả: dchph
Phan Cung-Nghiệp - Lối Mưa Mịtmùng
Tácgiả: dchph
Bốnmươi Năm Tình Lậnđận
Tácgiả: dchph
An Open Letter to Trôn: Go Bless America! (Bìnhan Dướithế Cho Người Thiệntâm Trên Đất Mỹ.)
Tácgiả: abcd
Một số vấn đề của chữ viết tiếng Việt dính liền
Tácgiả: dchph
Vài ý kiến về ý tưởng cải tạo tiếng Việt của diễn đàn Tiếng Việt VNY2K
Tácgiả: dchph
Cuộc Hưuchiến Trong Rừng
Tácgiả: dchph
Niềmvui Chânthành -- Phan Cung Nghiệp
Tácgiả: dchph
Buồn Làmchi Em Ơi?
Tácgiả: dchph

Ðềtài chưacó người trảlời
· Cảmgiác như Từnguyên “ThuầnViệt” — Và Sựthật Từnguyênhọc Phũphàng
· ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC - SONG THAO
· Ziendan.com is coming home...
· Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU
· Xin Đừngcó MùaĐông - - Trúc Giang

Ðềtài thảoluận
Chưa đăng đềtài mới

NEWS UPDATE


NOT ALL THE CHINESE RULERS LEARN THE SAME THE LESSONS OF VIETNAM'S HISTORY. LET'S TEACH THEM ANOTHER ONE, A CHINA 911 STYLE!
Flag counter for this page only -- reset 06262011

Diễnđàn cổvũ sửađổi cáchviết ChữViệt2020 mới!
ziendan.net | vny2k.com | hocthuat.com | sangtac.com | Han-Viet.com
©2002-2024 vny2k.com